Chào mừng bạn đến với Website Trung Tâm Khuyến Nông Quảng Trị

Danh ngôn - Tục ngữ

Liên kết

Trang nhất » Thuỷ sản

MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NQ SỐ 36-NQ/TW VỀ “ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM ĐÉN 2030, TẦM NHÌN 2045”
Ngày tạo: 28/08/2019   Lượt xem: 24

 

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết được thông qua ngày 22/10/2018.

 Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển”. Chiến lược cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cho từng lĩnh vực như sau:

 - Các chỉ tiêu tổng hợp: Các chỉ tiêu về quản trị biển và đại dương, quản lý vùng bờ theo chuẩn mực quốc tế đạt mức thuộc nhóm nước trung bình cao trở lên trên thế giới. Hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến biển, đảo được thực hiện theo nguyên tắc quản lý tổng hợp phù hợp với hệ sinh thái biển.

- Về kinh tế biển: Các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước. Các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.

- Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần trở lên so với thu nhập bình quân của cả nước. Các đảo có người dân sinh sống có hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đầy đủ, đặc biệt là điện, nước ngọt, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục...

- Về khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển: Tiếp cận, tận dụng tối đa thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến và thuộc nhóm nước dẫn đầu trong ASEAN, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ biển đạt trình độ tiên tiến, hiện đại trên thế giới. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ biển có năng lực, trình độ cao.

- Về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng:

Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật.

Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường.

Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000.

Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. Có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển.

Phải nói rằng, trước khi có Nghị quyết số 36-NQ/TW, thời gian qua, ngành nông nghiệp đã coi Nghị quyết số 09-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, ban hành ngày 9-02-2007 là kim chỉ nam để định hướng cho cơ cấu lại lĩnh vực thủy sản. Theo đó tập trung vào chuyển dịch cơ cấu giữa khai thác với nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá; xây dựng và phát triển các mô hình liên kết, liên doanh, gắn sản xuất, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ; đẩy mạnh khai thác xa bờ với bảo vệ an ninh, quốc phòng...

Nhờ chuyển dịch đúng hướng, tổng sản lượng thủy sản đã tăng từ 5,92 triệu tấn (năm 2012), lên 7,2 triệu tấn (năm 2017), vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 trước gần ba năm; tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản trong giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 2,4% so với năm 2012; tốc độ tăng thu nhập từ lĩnh vực thủy sản đạt 4,29%/năm.

Năm 2018, tiếp tục khởi sắc, tổng sản lượng thủy sản đạt 7,757 triệu tấn, tăng 6.1% so với năm 2017. Theo đó, giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản ước đạt khoảng 228.14 nghìn tỷ đồng, tăng 7.7%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt mức cao 8.8 tỷ USD, tăng 5,8%. Trong đó hầu hết các nhóm sản phẩm đều tăng so với năm 2017: cá tra đạt 2,26 tỷ USD, tăng 26,4%; tôm đạt 3,58 tỷ USD, giảm 7,1% (tôm chân trắng 2,48 tỷ USD giảm 2,0%; tôm sú 810 triệu USD, giảm 7,8%); nhóm hải sản gồm cá ngừ 675 triệu USD, tăng 13,9%; cá khác 1,52 tỷ USD, tăng 15,5%; nhuyễn thể 785 triệu USD, tăng 9,1%; giáp xác 145 triệu USD, tăng 23,0%.

Về nuôi trồng thủy sản: Năm 2010, sản lượng nuôi trồng thủy sản mới đạt 2,7 triệu tấn thì đến năm 2017 đã đạt sản lượng 3,85 triệu tấn, năm 2018 tiếp tục tăng đạt sản lượng 4,154 triệu tấn. Trong các đối tượng nuôi chủ lực, có sự phát triển mạnh của nuôi tôm nước lợ, nhất là tôm thẻ chân trắng, phù hợp xu hướng tiêu thụ của thị trường nhập khẩu. Về tình hình sản xuất giống một số đối tượng thủy sản chủ lực cơ bản đã đáp ứng nhu cầu giống cho nuôi. Tính đến hiện nay, cả nước có 2.457 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó có 1.855 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 602 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng. Năm 2018, số lượng tôm thẻ chân trắng bố mẹ nhập khẩu khoảng 200.000 con; sản lượng tôm giống sản xuất là 120 tỷ con tôm giống. Về cá tra, cả nước hiện có 230 cơ sở sản xuất giống cá tra, 4.000 hộ ương dưỡng cá giống, sản xuất được khoảng 25 tỷ cá tra bột, hơn 2,5 tỷ cá tra giống. Trong nuôi trồng thủy sản, đã phát triển các vùng nuôi tôm, cá công nghiệp tập trung sử dụng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, tiết kiệm nước, giảm đến mức thấp nhất các tiêu cực từ việc xả thải, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Đồng thời hoàn thiện, phổ biến và ứng dụng rộng rãi các quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP), các tiêu chuẩn quốc tế tương tự và đẩy mạnh liên kết sản xuất tiêu thụ theo chuỗi giá trị sản phẩm.

Bên cạnh những thành quả đạt được, vẫn còn những khó khăn lớn mà chúng ta cần phải vượt qua, cần sự vào cuộc mạnh mẽ của người dân và các cơ quan chức năng chuyên môn, đó là:

- Thứ nhất: Việc kiểm soát nguồn nguyên liệu chưa thật sự tốt (từ hải sản khai thác đến các vùng nuôi) về việc tuân thủ quy định IUU hay dư lượng hóa chất, khiến cho các nhà máy chế biến không đủ khả năng kiểm soát đồng bộ quá trình sản xuất.

- Thứ hai: Việc nhập khẩu nguyên liệu (bắp, đậu nành…) để chế biến thức ăn chăn nuôi nên giá thức ăn luôn cao hơn các nước, ảnh hưởng đến giá thành nguyên liệu thủy sản chế biến, giảm sức cạnh tranh so với Thái Lan, Ấn Độ, Ecuador…

- Thứ ba: Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, dịch bệnh, môi trường đến ngành thủy sản đã làm thiếu hụt nguyên liệu, phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu chế biến của các nhà máy.

- Thứ tư: Khó khăn về rào cản thị trường. Vấn đề “thẻ vàng” IUU làm gia tăng khó khăn trong việc xuất khẩu hải sản vào thị trường EU. Với thị trường lớn nhất là Mỹ, các vấn đề về thuế chống bán phá giá mặt hàng tôm và cá tra, chương trình thanh tra cá da trơn và mới nhất là chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu (SIMP) đang trở thành sức ép lớn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. 

Từ bài học thực tế đó và bám sát nội dung tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn 2045, ngành thủy sản đề ra nhiều giải pháp để phát triển bền vững. Theo đó, quan tâm đến công tác nghiên cứu điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường phục vụ quy hoạch và cấp phép khai thác hải sản theo tàu/nghề/vùng biển; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các hoạt động nghiên cứu nguồn lợi thủy sản và tổ chức khai thác hải sản trên biển. Tổ chức lại sản xuất khai thác hải sản trên biển, trên cơ sở cơ cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp các vùng biển, tuyến biển, với môi trường tự nhiên, nguồn lợi hải sản. Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp để định hướng khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn lợi hải sản trên biển. Đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác thủy sản, bảo quản sản phẩm để giảm tổn thất sau thu hoạch.

Củng cố và phát triển các mô hình tổ chức sản xuất khai thác hải sản như: tổ đội sản xuất, hợp tác xã, các hình thức kinh tế tập thể, liên doanh, liên kết, các mô hình hậu cần dịch vụ tiêu thụ sản phẩm trên biển. Xây dựng các hợp tác xã và liên minh hợp tác xã nghề cá theo hướng thật sự vì lợi ích của ngư dân, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, gắn kết cộng đồng, phát triển và ổn định xã hội vùng biển và hải đảo. Hình thành một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn đủ mạnh để hoạt động khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương với các nước trong khu vực. Củng cố, phát triển ngành cơ khí đóng, sửa tàu cá, có lộ trình phù hợp chuyển nhanh các tàu cá vỏ gỗ sang vỏ thép, vật liệu mới…, phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành cơ khí tàu cá, các ngành sản xuất lưới sợi, ngư cụ phục vụ khai thác gắn với đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cảng cá, bến cá, các khu neo đậu tránh trú bão, các khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các hải đảo. Cần hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, sớm hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn. Tăng cường bảo vệ, hỗ trợ bảo đảm an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển. Xây dựng lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ nguồn lợi gắn với bảo vệ ngư dân và quốc phòng an ninh trên biển và hải đảo...

Ngoài ra, một trong những giải pháp quan trọng nữa là tăng cường công tác quản lý nhà nước. Cụ thể, hoàn thiện xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản năm 2017 có hiệu lực tháng 1-2019. Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng thủy sản, quản lý chất lượng theo chuỗi sản phẩm gắn với truy xuất nguồn gốc; nhất là về chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y và các chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản, các chất bảo quản sản phẩm thủy sản. Đầu tư đồng bộ, hiện đại các trung tâm, phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực, quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn cao về kiểm soát chất lượng... Trước mắt toàn ngành thủy sản phấn đấu đến năm 2020 đạt tốc độ tăng giá trị gia tăng ít nhất 5%/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 12,5 tỷ USD./.

                                                      Sưu tầm và biên soạn: Nguyễn Xuân Đính

 

                                                          Trung tâm Giống thủy sản Quảng Trị


Các tin khác:
  • QUẢNG TRỊ TRIỂN KHAI LẮP ĐẶT THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH TÀU CÁ -8/28/2019 12:00:00 AM
  • MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NQ SỐ 36-NQ/TW VỀ “ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM ĐÉN 2030, TẦM NHÌN 2045” -8/28/2019 12:00:00 AM
  • THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH KHAI THÁC THỦY SẢN TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ -8/28/2019 12:00:00 AM
  • BAN QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CỒN CỎ VỚI CÔNG TÁC CỨU HỘ RÙA BIỂN -8/28/2019 12:00:00 AM
  • GIỚI THIỆU QUI ĐỊNH HỆ THỐNG GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH TÀU CÁ -5/21/2019 12:00:00 AM
  • KHAI THÁC ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN -3/21/2019 12:00:00 AM
  • VĨNH THÁI VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN, BẢO VỆ VÀ CỨU HỘ RÙA BIỂN -1/31/2019 12:00:00 AM
  • ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, GIẢI PHÁP -7/25/2018 12:00:00 AM
  • TĂNG CƯỜNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CHỐNG KHAI THÁC BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG BÁO CÁO VÀ KHÔNG THEO QUI ĐỊNH -7/25/2018 12:00:00 AM
  • MỘT SỐ CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN HIỆN NAY XU THẾ PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM TẠI QUẢNG TRỊ -7/25/2018 12:00:00 AM
  • CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHO CÁ TỪ CÁC SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP -4/6/2018 12:00:00 AM
  • CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC “THẺ VÀNG” CỦA ỦY BAN CHÂU ÂU (EC) -2/7/2018 12:00:00 AM
  • QUY ĐỊNH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI CƠ SỞ NHỎ LẺ SẢN XUẤT NƯỚC MẮM -1/16/2018 12:00:00 AM
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO ĐỘNG VẬT THỦY SẢN VÀO MÙA MƯA LŨ -11/10/2017 12:00:00 AM
  • HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ PHI DÒNG ĐƯỜNG NGHIỆP -8/25/2017 12:00:00 AM
  • GIẢI PHÁP KHAI THÁC BỀN VỮNG CHO NGHỀ CÁ QUẢNG TRỊ -8/25/2017 12:00:00 AM
  • GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG NUÔI TÔM CÁ -3/21/2017 12:00:00 AM
  • KỸ THUẬT CẢI TẠO AO -2/10/2017 12:00:00 AM
  • BẢO TỒN CUA ĐÁ CỒN CỎ – NGƯỜI DÂN LÀ NHÂN TỐ THEN CHỐT! -1/16/2017 12:00:00 AM
  • PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH XUẤT HUYẾT Ở CÁ TRẮM CỎ -10/17/2016 12:00:00 AM
  • TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT CẤM TRONG CHĂN NUÔI -4/4/2016 12:00:00 AM
  • CÁ DIÊU HỒNG, ĐỐI TƯỢNG NUÔI MỚI TẠI THỊ XÃ QUẢNG TRỊ -11/16/2015 12:00:00 AM
  • NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MEN VI SINH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN -9/8/2015 12:00:00 AM
  • THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH LƯỚI VÂY MÀNH KHƠI TRÊN TÀU KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TẠI QUẢNG TRỊ -2/11/2015 12:00:00 AM
  • GIO LINH: ĐẨY MẠNH KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN -5/19/2014 12:00:00 AM
  • Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP) và áp dụng vào nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị -12/4/2013 12:00:00 AM
  • PHÒNG BỆNH TỔNG HỢP CHO THỦY SẢN NUÔI TRONG MÙA HÈ -8/21/2013 12:00:00 AM
  • NUÔI TÔM BẰNG VI SINH TIẾT KIỆM MÀ HIỆU QUẢ -7/19/2013 12:00:00 AM
  • TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ BẢO VỆ VF TÁI TẠO NGUỒN LỢI THỦY SẢN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG -8/21/2013 12:00:00 AM
  • TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN ĐẢY MẠNH SẢN XUẤT TÔM GIỐNG CHO NGƯỜI NUÔI -8/22/2013 12:00:00 AM
  • NHÌN LẠI MÔ HÌNH NUÔI BÁN THÂM CANH CÁ RÔ PHI ĐƠN TÍNH ĐỰC THEO HƯỚNG GAP -10/9/2012 12:00:00 AM
  • HIỆU QUẢ MÁY DÒ NGANG (SONAR) TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN CHO TÀU CÁ TẠI QUẢNG TRỊ -10/9/2012 12:00:00 AM
  • Gio Linh: TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN NUÔI THUỶ SẢN -10/9/2012 12:00:00 AM
  • PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN VÂN CHUYỄN SỐNG TÔM NUÔI SAU THU HOẠCH -8/15/2012 12:00:00 AM
  • KỸ THUẬT NUÔI CÁ ĐẦU VUÔNG -8/15/2012 12:00:00 AM
  • NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC THỰC HIỆN TỔ NGƯ DÂN ĐOÀN KẾT SẢN XUẤT TRÊN BIỂN -8/14/2012 12:00:00 AM
  • QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI NGHỀ CÁ TỈNH QUẢNG TRỊ -5/24/2012 12:00:00 AM
  • NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CỒN CỎ SAU 2 NĂM THÀNH LẬP -5/24/2012 12:00:00 AM
  • THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM ĐỐI VỚI NGHỀ CHẾ BIẾN CÁ HẤP -5/24/2012 12:00:00 AM
  • TRẠI SẢN XUẤT GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT TRÚC KINH TỔ CHỨC CÔNG TÁC CUNG ỨNG GIỐNG THỦY SẢN NĂM 2012 -3/12/2012 12:00:00 AM
  • TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI NGHỀ CÁ QUẢNG TRỊ VÀ BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG -12/22/2011 12:00:00 AM
  • RA QUÂN LÀM SẠCH MÔI TRƯỜNG BIỂN -12/6/2011 12:00:00 AM
  • SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO CÁ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH -11/2/2011 12:00:00 AM
  • MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN DỊCH BỆNH TRÊN TÔM NUÔI -10/16/2011 12:00:00 AM
  • GAP – HƯỚNG ĐI CHO NUÔI TRỒNG THỦY SẢN BỀN VỮNG -10/17/2011 12:00:00 AM